Thời cơ, thách thức của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 đối với Việt Nam

Thời cơ, thách thức của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 đối với Việt Nam

Triển vọng kinh tế Việt Nam, thời cơ, thách thức trong quá trình phát triển kinh tế – xã hội giai đoạn đến năm 2020.

Tăng trưởng kinh tế của Việt Nam trong giai đoạn 2011 – 2017 bình quân đạt khoảng 5,96%, mặc dù có thấp hơn so với mục tiêu 6,5% – 7%, tuy nhiên trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam và thế giới đang gặp nhiều khó khăn, thách thức thì đây là mức tăng khá cao và được xếp vào nhóm các quốc gia có tốc độ tăng trưởng hàng đầu của thế giới và khu vực, đặc biệt năm 2017 tăng trưởng kinh tế đạt 6,81%, vượt chỉ tiêu năm (6,7%) đề ra và là mức tăng trưởng cao nhất trong 10 năm qua. Những năm tới kinh tế thế giới tiếp tục vượt qua suy giảm và từng bước lấy lại đà tăng trưởng ổn định hơn, điều này, sẽ có những tác động không tích cực tới tăng trưởng kinh tế Việt Nam, đặc biệt là tới hoạt động xuất khẩu. Việc các quốc gia trên thế giới tiếp tục phải duy trì các chính sách kinh tế vĩ mô nới lỏng cộng với việc liên tục đưa ra các gói kích thích kinh tế mới sẽ tạo áp lực lạm phát và Việt Nam cũng sẽ không tránh khỏi áp lực này; việc dòng vốn nước ngoài có xu hướng di chuyển mạnh sang khu vực Đông Nam Á bên cạnh yếu tố tích cực cũng tạo những khó khăn nhất định cho Ngân hàng Nhà nước trong việc kiểm soát luồng ngoại tệ ra vào nền kinh tế. Tuy nhiên, cũng có một số dự báo cho rằng Việt Nam sẽ lấy lại đà phát triển bắt đầu từ năm 2017. Xu hướng tăng trưởng 6,9 – 7,0% có thể đạt được giai đoạn 2017 – 2020, khi thị trường bất động sản sôi động hơn, thị trường xuất khẩu phục hồi, hệ thống ngân hàng trở nên ổn định hơn và nếu những thay đổi quy định về đầu tư trực tiếp nước ngoài đã dự tính có hiệu lực. Năm 2018, mức tăng trưởng kinh tế của Việt Nam được dự báo sẽ tăng 6,8 – 6,9% và chỉ số giá tiêu dùng (CPI) khoảng dưới 4,8%.

Tuy vậy, thời gian tới, nền kinh tế Việt Nam tiếp tục phải đối mặt với rất nhiều thách thức phát sinh từ thực tế vận động, cũng có thể được tích tụ qua cả một quá trình phát triển, đó là nền kinh tế Việt Nam vẫn còn tiếp tục phải đối mặt với nguy cơ lạm phát; mức dự trữ ngoại tệ tuy đã tăng mạnh trong những năm qua, nhưng thấp so với quốc tế. Bên cạnh đó, chất lượng tài sản của các tổ chức tín dụng chưa được tốt; nợ công tăng nếu tính cả nợ dự phòng của các ngân hàng và doanh nghiệp Nhà nước; việc thực hiện quá trình cải cách cơ cấu nền kinh tế chưa thực sự hiệu quả, hiện đang là những vật cản tới tiềm năng tăng trưởng dài hạn của Việt Nam.

Xem thêm: Một số nét khái quát về cách mạng công nghiệp 4.0

Có thể khẳng định, giai đoạn đến 2020, nền kinh tế Việt Nam có nhiều thuận lợi và cơ hội phát triển, nhưng vẫn tiếp tục đối mặt với những khó khăn, thách thức. Quan điểm phát triển, tư tưởng chỉ đạo chung là phải nắm vững và giải quyết tốt mối quan hệ giữa tốc độ tăng trưởng và chất lượng phát triển; giữa tăng trưởng khá và ổn định kinh tế vĩ mô; giữa kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô với đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế… Mục tiêu tổng quát trong giai đoạn 2016 – 2020 là bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, phấn đấu tăng trưởng kinh tế cao hơn 5 năm trước. Đẩy mạnh thực hiện các đột phá chiến lược, cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất, hiệu quả và sức cạnh tranh. Phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và cải thiện đời sống nhân dân. Chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, đẩy mạnh quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường. Tăng cường quốc phòng, an ninh, giữ vững chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ và bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Giữ vững hòa bình, ổn định, tạo môi trường và điều kiện thuận lợi để xây dựng và bảo vệ đất nước. Tiếp tục xây dựng nền tảng vững chắc để sớm đưa nước ta trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại và tích cực hội nhập quốc tế. Tiếp tục phối hợp hành động toàn cầu và khu vực trong xử lý các vấn đề chung của kinh tế thế giới: phát triển bền vững, sử dụng bền vững nguồn nước, phát triển nguồn nhân lực trong bối cảnh CMCN 4.0…; phối hợp trong các lĩnh vực cùng quan tâm như thúc đẩy tăng trưởng bền vững, sáng tạo và bao trùm; thúc đẩy liên kết kinh tế, thương mại và đầu tư; khuyến khích đổi mới sáng tạo; hợp tác chống biến đổi khí hậu… góp phần “Định hình một thế giới kết nối”, “Tạo động lực mới, cùng vun đắp tương lai chung” vì hòa bình, ổn định và phát triển.

Tác động của Cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 đối với Việt Nam

Việc thế giới mới khởi phát cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 là cơ hội rất quý giá mà Việt Nam chưa từng có trong suốt 30 năm qua để nhanh chóng đón bắt, tiến thẳng vào lĩnh vực công nghiệp mới, tranh thủ các thành tựu khoa học – công nghệ tiên tiến để đẩy nhanh hơn tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và thu hẹp khoảng cách phát triển. Đây cũng là thời cơ vàng để Việt Nam đón bắt và điều chỉnh chiến lược phát triển đất nước, trong đó, chú trọng đến chiến lược công nghiệp mới, tái cấu trúc các sản phẩm công nghiệp và đầu tư xứng tầm và có chiều sâu cho các cơ sở đào tạo trọng điểm.

Theo nhận định của nhiều chuyên gia, cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 ảnh hưởng nhiều nhất đến những ngành nghề gắn với lao động chân tay, lao động mang tính thao tác lặp đi lặp lại và sản xuất đồng loạt. Ngoài ra, những ngành nghề gắn với quá trình tự động hóa, điều khiển được hành vi như: dệt may gia công, lắp ráp điện tử, cơ khí chế tạo… cũng dễ bị thay thế bởi robot. Nhìn chung, với cuộc CMCN 4.0, mọi ngành nghề đều có khả năng bị thay thế hoặc điều chỉnh. Tuy nhiên, những công việc liên quan đến cảm xúc, trực giác của con người sẽ khó bị thay thế hơn, như: nghệ sĩ, bác sĩ…

Có nhiều ý kiến cho rằng, Việt Nam là nước đi sau nên có lợi thế hơn với cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0. Chẳng hạn, chúng ta không tốn quá nhiều chi phí chuyển đổi cho cuộc Cách mạng công nghiệp 3.0. Tuy nhiên, còn nhiều thách thức không nhỏ do hiện tại chưa có quá nhiều tác động của cuộc CMCN 4.0, chúng ta phải biết tranh thủ cơ hội này để tận dụng những thành quả của những cuộc CMCN trước đó. Với cuộc Cách mạng công nghiệp 3.0, vẫn còn rất nhiều việc chúng ta chưa làm được, chưa đạt tới. Nếu muốn làm được điều đó, đòi hỏi phải có tầm nhìn, tư duy phát triển vượt trội.

Hiện nay, trong số những điều kiện cần và đủ cho cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0, Việt Nam mới chỉ có sự quyết tâm. Trong khi đó, trí tuệ con người, năng lực sáng tạo đóng vai trò rất quan trọng. Muốn có được hai yếu tố này, chúng ta cần phải cấu trúc lại hệ thống giáo dục và đào tạo.

Cách mạng công nghiệp 4.0 tác động mạnh mẽ đến cả tiêu dùng, sản xuất và giá cả. Thế giới bước vào thời đại tăng trưởng chủ yếu dựa vào động lực không có giới hạn là công nghệ và đổi mới sáng tạo. Từ góc độ tiêu dùng và giá cả, mọi người được hưởng lợi nhờ tiếp cận với nhiều sản phẩm và dịch vụ mới chất lượng cao, chi phí thấp hơn. Do đó, để bắt kịp với cuộc CMCN 4.0, Việt Nam cần đặc biệt quan tâm tới việc đào tạo nguồn nhân lực số, xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp. Chúng ta phải chuẩn bị cho thế hệ sau một hệ thống tri thức, năng lực. Trước mắt, vẫn phải lo việc làm cho những người không có tay nghề, nhưng đồng thời cần ráo riết chuẩn bị chương trình chuyển lực lượng lao động đó sang ngành nghề khác khi ngành nghề đó bị thay thế bởi cuộc CMCN 4.0.

Xem thêm:  Khái niệm về văn hóa

Cách mạng công nghiệp 4.0 là sự tích hợp cao độ của hệ thống siêu kết nối số, vật lý, ảo và thực. Công nghệ thông tin có khả năng làm thay đổi nền sản xuất thế giới, mở ra cơ hội cho từng cá nhân, tổ chức và dân tộc. Còn nhiều lĩnh vực, ngành nghề có tiềm năng giúp chúng ta mở ra hướng giải quyết các vấn đề nêu trên, chẳng hạn như du lịch. Đây là lĩnh vực mà khả năng thay thế bằng công nghệ không cao lắm. Trong khi đó, Việt Nam có tiềm năng du lịch rất lớn vẫn chưa phát huy hết tiềm năng. Thứ hai là cần phát triển mạnh công nghệ thông tin – một ngành mà mỗi quốc gia muốn vượt lên dù với công nghệ nào thì cũng phải trong khuôn khổ và trên nền công nghệ thông tin.

Mức độ chủ động triển khai Công nghiệp 4.0 tại Việt Nam

Để  đánh  giá  mức  độ  chủ  động  cho Công nghiệp 4.0 dựa trên số hoá và kết nối ở Việt Nam, Bài viết đưa ra các số liệu tổng hợp về một số chỉ số toàn cầu (số liệu 2016) liên  quan  đến  các  lĩnh  vực  của Việt  Nam, so sánh với một số nước Đông Nam Á. Các chỉ số bao gồm: Chỉ số cạnh tranh toàn cầu (Global Competitiveness Index – GCI), Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu (Global Innovation Index – GII), Chỉ số cạnh tranh sản xuất toàn cầu (Global Manufacturing Competitiveness Index – GMCI) 2016, Chỉ số sẵng sàng kết nối toàn cầu (NRI) (đánh giá mức độ sẵn sàng và mức độ khai thác CNTT-TT). Đối với bốn chỉ số GCI, GII, GMCI và NRI nêu trên, Việt Nam hiện đang tiệm cận mức trung bình của ASEAN-5.

Bảng 1. So sánh Việt Nam với một số quốc gia ở châu Á qua một số chỉ số

Nhóm thu nhập Việt Nam Thái Lan Malaysia Indonesia Philippines
Trung bình

thấp

Trung

bình cao

Trung bình

cao

Trung bình

thấp

Trung bình

thấp

Chỉ  số  cạnh  tranh

toàn cầu (GCI)

4.3 (56) 4.6 (32) 5.2 (18) 4.5 (37) 4.4 (47)
Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII) 35.4 (59) 36.5 (52) 43.4 (35) 29.1 (88) 31.8 (74)
Chỉ  số  cạnh  tranh sản  xuất  toàn  cầu (GMCI) 56.5 (18) 60.4 (14) 59 (17) 55.8 (19)
Chỉ số sẵn sàng kết nối toàn cầu (NRI) 3.9 (79) 4.2 (62) 4.9 (31) 4.0 (73) 4.0 (77)

Trong thời gian qua, Đảng và Chính phủ rất quan tâm đến cuộc CMCN 4.0 và cũng đã khẳng định cơ hội đem đến cho chúng ta trong cuộc cách mạng này rất lớn, tuy nhiên thách thức cũng không hề nhỏ. Nhiệm vụ đặt ra là làm thế nào để chúng ta có đủ năng lực tiếp cận nhanh CMCN 4.0.

d) Những vấn đề đặt ra đối với Việt Nam:

– CMCN 4.0 đang diễn ra mạnh mẽ, tạo ra một phương thức sản xuất mới hiệu suất cao, chất lượng sản phẩm tốt với giá thành hạ; có tác động trực tiếp tích cực đến các dịch vụ và quá trình lưu thông hàng hóa; nó là xu thế tất yếu trong sự phát triển sản xuất, dịch vụ và tiêu dùng, có ảnh hưởng sâu rộng tới mọi mặt kinh tế – xã hội, an ninh – quốc phòng của mỗi quốc gia. Để nâng cao năng lực tiếp cận và cạnh tranh quốc gia trong cuộc cách mạng này, Việt Nam cần phải có chiến lược phát triển với một số nhiệm vụ tiên quyết/ưu tiên sau đây:

– Đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ cho cuộc CMCN 4.0

Cuộc CMCN 4.0 đang ở giai đoạn đầu, giai đoạn chiến lược bản lề cho các nước đang phát triển tiến đến để theo kịp với xu hướng thế giới. Tuy nhiên, những yếu tố mà các nước đang phát triển như Việt Nam coi là ưu thế như lực lượng lao động thủ công trẻ, chi phí thấp sẽ không còn ưu thế mạnh nữa, thậm chí bị đe dọa nghiêm trọng. Theo nhiều chuyên gia, sự phát triển mạnh mẽ của cuộc CMCN 4.0 đang là thách thức hiện hữu đối với lao động Việt Nam. Kỷ nguyên công nghệ số mang đến những cơ hội đột phá về năng suất, phát triển nhân lực công nghệ cao. Tuy nhiên, chính điều này cũng khiến cho hàng chục nghìn lao động đang đứng trước nguy cơ mất việc làm dù đang ở độ tuổi lao động. Bởi vậy, nếu không sớm đưa ra các giải pháp thì Việt Nam không chỉ trở lên tụt hậu mà còn phải đối mặt với gánh nặng chính sách đảm bảo an sinh xã hội cho hàng chục nghìn lao động trước nguy cơ thất nghiệp.

Điều kiện tiên quyết để có thể triển khai thành công CMCN 4.0 ở nước ta là con người. Vì vậy, để chuẩn bị cho cuộc CMCN 4.0, việc đầu tiên chúng ta cần phải làm và duy trì lâu dài là ưu tiên nguồn lực để tăng cường đào tạo phát triển nguồn nhân lực công nghệ chất lượng cao, đào tạo kỹ năng sử dụng công nghệ một cách bài bản trong tất cả các lĩnh vực chủ chốt: công nghệ thông tin, vật lý và công nghệ sinh học.

Để đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng, hệ thống đào tạo bao gồm đội ngũ cán bộ giảng dạy, chương trình đào tạo và môi trường đào tạo cần phải đổi mới mạnh mẽ với cách tiếp cận CMCN 4.0. Cần đẩy mạnh khả năng tiếp cận sử dụng công nghệ, ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật xây dựng một xã hội học tập, nâng cao dân trí.

– Xây dựng các cơ chế, chính sách

Cần xây dựng các chính sách cơ chế và các giải pháp có tính đột phá để khai thác và huy động tối đa nguồn lực cho đầu tư xây dựng phát triển hạ tầng, trong đó đề xuất chính sách, cơ chế tài chính đặc thù để huy động vốn cho đầu tư phát triển hệ thống hạ tầng, bảo đảm tính khả thi. Đồng thời, cần sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện các quy định pháp luật và các cơ chế, chính sách bảo đảm tạo được môi trường pháp lý thuận lợi cho ứng dụng phát triển công nghệ, đẩy mạnh phát triển hạ tầng số.

Chính phủ đã ban hành Nghị định số 40/2014/NĐ-CP ngày 12/5/2014 quy định việc sử dụng, trọng dụng cá nhân hoạt động khoa học và công nghệ. Cần phải xây dựng thêm các chính sách cải thiện thủ tục hành chính và thuế trong hoạt động khoa học công nghệ nhằm tạo điều kiện ưu đãi cho các doanh nghiệp khởi nghiệp trong lĩnh vực khoa học và công nghệ. Cần phải triển khai mạnh mẽ các chính sách này trên thực tế, đặc biệt là đầu tư về kinh phí cho hoạt động khoa học và đãi ngộ cá nhân.

Xây dựng, hoàn thiện môi trường pháp lý, các cơ chế chính sách và giải pháp có tính đột phá để khai thác, huy động tối đa nguồn lực cho đầu tư xây dựng phát triển hạ tầng, ứng dụng công nghệ, khuyến khích và hỗ trợ phát triển doanh nghiệp khởi nghiệp trong lĩnh vực khoa học và công nghệ, đãi ngộ, trọng dụng cá nhân hoạt động khoa học và công nghệ.

Xây dựng, hoàn thiện chính sách và định hướng ưu tiên phát triển đối với các lĩnh vực công nghệ lõi, công nghệ nền tảng như: trí tuệ nhân tạo và robot, phân tích dữ liệu lớn, Internet vạn vật, chuỗi khối, công nghệ vật liệu tiên tiến, công nghệ chế tạo cộng và in 3D, công nghệ thần kinh, sinh học tổng hợp, công nghệ lưu trữ năng lượng tiên tiến, vệ tinh nhỏ và siêu nhỏ; đồng thời đẩy mạnh bảo mật, bảo hộ sở hữu trí tuệ và an ninh mạng.

Thời cơ, thách thức của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 đối với Việt Nam

Ngọc Thi

Tôi luôn muốn góp một phần nhỏ những kinh nghiệm của mình giúp các anh chị hoàn thành tốt luận án tiến sĩ

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *